cuộc đời cao sang đưa bước em sang ngang

Ở tuổi 30, sau tất cả những gì đã trải qua trong sự nghiệp và đời sống riêng tư, Selena tự tin thực hiện một bộ phim tài liệu để kể lại những thăng trầm trong cuộc đời mình. Bộ phim sẽ ra mắt vào ngày 4/11. Chia sẻ về bộ phim tài liệu này, Selena viết: "Tôi có lo Đưa Nghị quyết vào cuộc sống; Dự án cầu Rạch Miễu 2; Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV; RSS . An ninh > Trật tự xã hội. Làm lại cuộc đời. 14/09/2022 - 05:38. BDK - Một người thợ có tay nghề cao, một chủ cơ sở làm ăn uy tín hay một người thầy tận tâm là những điều Bộ Chỉ huy BĐBP các tỉnh, thành phố miền Trung xác định, từ chiều tối nay (27/9), mỗi đồn Biên phòng sẽ trở thành nơi tránh trú bão an toàn cho mọi người dân. BĐBP Quảng Ngãi huy động tối đa lực lượng phòng, chống bão số 4. Đưa 14 thuyền viên của tàu chở hàng gặp Vay Tiền Online Me. TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN - TRỊNH THỊ SINH THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TẬP THƠ LỠ BƯỚC SANG NGANG CỦA NGUYỄN BÍNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành Văn học Việt Nam Người hướng dẫn khoa học NGUYỄN PHƯƠNG HÀ HÀ NỘI - 2014 Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Văn học Việt Nam, khoa Ngữ Văn trường Đại học sư phạm Hà Nội 2. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy cô, đặc biệt là tới Nguyễn Phương Hà người đã tạo điều kiện, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua. Khóa luận được hoàn thành song không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì vậy chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô giáo để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn. Hà Nội, tháng 5 năm 2014 Sinh viên Trịnh Thị Sinh SV Trịnh Thị Sinh Lớp K36C – Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Khóa luận Thế giới nghệ thuật trong tập thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có sự tham khảo ý kiến của những người đi trước, dưới sự giúp đỡ khoa học của Nguyễn Phương Hà. Khóa luận không sao chép từ một tài liệu công trình sẵn có nào. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Hà Nội, tháng 5 năm 2014 Sinh viên Trịnh Thị Sinh SV Trịnh Thị Sinh Lớp K36C – Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1 2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................... 2 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 5 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 5 5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 5 6. Đóng góp của khóa luận............................................................................ 6 7. Bố cục ........................................................................................................ 6 NỘI DUNG ................................................................................................... 7 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .................................................. 7 Khái niệm thế giới nghệ thuật ................................................................ 7 Tác giả Nguyễn Bính ............................................................................. 9 Cuộc đời .......................................................................................... 9 Sự nghiệp sáng tác ........................................................................ 11 Tập thơ Lỡ bước sang ngang ............................................................... 15 CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG TẬP THƠ LỠ BƯỚC SANG NGANG CỦA NGUYỄN BÍNH .......................... 17 Cái tôi thôn dân .................................................................................... 18 Cái tôi thôn dân gắn bó với nếp sinh hoạt của làng quê xưa ....... 18 Cái tôi thôn dân gắn bó với tâm hồn, suy nghĩ, tình cảm của người dân quê.......................................................................................... 21 Cái tôi lỡ dở .......................................................................................... 25 Cái tôi của những yêu thương lỡ dở ............................................. 26 Cái tôi của những thân phận đơn côi, độc bước, dở dang ........... 29 SV Trịnh Thị Sinh Lớp K36C – Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN BIỂU HIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT TRONG TẬP THƠ LỠ BUỚC SANG NGANG............... 34 Thời gian nghệ thuật ............................................................................ 34 Thời gian tâm trạng ...................................................................... 35 Thời gian đời người ...................................................................... 37 Thời gian ước định ........................................................................ 37 Không gian nghệ thuật ......................................................................... 39 Giọng điệu ............................................................................................ 47 Giọng điệu kể lể ............................................................................ 47 Giọng điệu than vãn, giận hờn...................................................... 50 Ngôn ngữ .............................................................................................. 53 Ngôn ngữ mang phong vị ca dao .................................................. 54 Ngôn ngữ mang nhạc điệu tâm hồn .............................................. 57 KẾT LUẬN ................................................................................................. 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO SV Trịnh Thị Sinh Lớp K36C – Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1. Nguyễn Bính là một tác giả tài hoa. Ông cùng với Xuân Diệu và Huy Cận trở thành ba đỉnh cao của phong trào thơ Mới 1932-1945. Trong khi biết bao nhà thơ đi tìm tòi để cách tân, lạ hóa thơ mình và chịu ảnh hưởng của rất nhiều các trường phái thơ ca nước ngoài thì Nguyễn Bính vẫn đắm say, mơ mộng với hồn quê, tình quê. Ông vẫn mải miết tìm về với các thể thơ dân tộc với lối ví von so sánh quen thuộc mà ý vị, đậm đà. Vậy nên, tiếng thơ Nguyễn Bính như một nốt nhạc nhẹ nhàng, bình dị, ngân nga trong bản hợp tấu thơ Mới đa thanh, đa điệu. Cũng chính vì vậy mà đến hôm nay, thơ Nguyễn Bính vẫn được nhiều người tìm đọc để rồi say mê và tụng ca. Trải qua bao thử thách của thời gian, thơ ông ngày càng được khẳng định. Từng vần thơ của ông cứ day dứt, ám ảnh khôn nguôi trong lòng độc giả bởi nó không chỉ là những vần thơ thể hiện tài năng hay xúc cảm của riêng thi nhân mà nó đã chạm sâu tới những ngõ ngách tâm tư sâu kín của lòng người. Nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính chính là cơ hội để chúng ta được đắm mình trong thế giới thơ ca đích thực và đồng thời góp một phần để tiếng thơ ấy ngân nga vang vọng hơn nữa. 2. Đặc biệt, tập thơ Lỡ bước sang ngang, ra đời năm 1940 đã trở thành sáng tác tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Bính. Có thể khẳng định tập thơ là sự thăng hoa của tâm hồn người “thi sĩ giang hồ” với biết bao cung bậc cảm xúc yêu thương, hờn ghen, xót xa, lỡ dở… Đồng thời, ở đó cũng là sự kết tinh bao nét tài hoa trong nghệ thuật thơ Nguyễn Bính. Lỡ bước sang ngang đã trở thành tập thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ ông. Tìm hiểu về thế giới nghệ thuật trong tập thơ chính là chìa khóa để mở cách cửa bước vào vườn thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng. SV Trịnh Thị Sinh 1 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 3. Không chỉ vậy, Nguyễn Bính là một tác giả văn học được giảng dạy và học tập trong nhiều cấp bậc nhà trường từ trung học phổ thông tới cao đẳng, đại học. Việc nắm bắt thơ Nguyễn Bính như một chỉnh thể có quy luật vận động nội tại sẽ giúp quá trình nghiên cứu, học tập về thơ ông thuận lợi, hiệu quả hơn. Như vậy, xuất phát từ sự trân trọng thơ ca dân tộc, lòng yêu thích những vần thơ mộc mạc mà đằm sâu ý tình, cũng như mong muốn góp một phần nhỏ vào việc dạy học tác giả, tác phẩm Nguyễn Bính trong nhà trường, chúng tôi lựa chọn đề tài Thế giới nghệ thuật trong tập thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính. 2. Lịch sử vấn đề Nguyễn Bính là tác giả có vị trí đặc biệt trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung và phong trào thơ Mới nói riêng. Sự nghiệp thơ ca của ông được coi là kho tài sản quý báu, có sức hấp dẫn mãnh liệt không chỉ đối với người yêu thơ mà còn cả với các nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Trong đó, Lỡ bước sang ngang là tập thơ tiêu biểu. Tác phẩm được in năm 1940, đã đánh một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp thơ và đưa tên tuổi Nguyễn Bính vượt lên trên nhiều tác giả đương thời khác. Tập thơ, ngay từ khi ra đời, đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả ở những phương diện khác nhau nhưng do phạm vi nghiên cứu của khóa luận nên chúng tôi chỉ khảo sát một số ý kiến đánh giá điển hình. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, các tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân đã trân trọng giới thiệu Nguyễn Bính là gương mặt điển hình của phong trào thơ Mới và ngợi ca Nguyễn Bính là thi sĩ tài hoa “biết đánh thức người nhà quê vẫn ẩn áu trong tâm hồn ta”. Rõ ràng, Hoài Thanh, Hoài Chân nhấn mạnh tới yếu tố “chân quê”, “hồn quê”, “tình quê” trong những vần thơ mộc mạc của Nguyễn Bính. Đặc biệt trong công trình nghiên cứu này, số lượng bài thơ SV Trịnh Thị Sinh 2 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 được giới thiệu của ông chỉ xếp sau Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Quách Tấn và vượt trên cả những tên tuổi đang tỏa sáng trên thi đàn thơ Mới như Thế Lữ, Hàn Mạc Tử, Vũ Hoàng Chương… Cùng quan điểm với ý kiến đánh giá của các tác giả trong Thi nhân Việt Nam, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại cũng chỉ ra “thứ tình quê phác thực” tỏa ra trong thơ Nguyễn Bính. Đây có thể coi là những ý kiến đánh giá đầu tiên của các nhà nghiên cứu về thơ ông. Trong Thi pháp Nguyễn Bính, tác giả Thụy Khuê cho rằng “Nguyễn Bính nổi tiếng ngay từ tập thơ đầu Lỡ bước sang ngang. Người Việt Nam từ nam chí bắc thuộc Lỡ bước sang ngang”. Cũng theo Thụy Khuê, Nguyễn Bính đã “ nói hộ một thế hệ đàn bà, một thế hệ lỡ bước”. Như vậy, thơ ông đã trở nặng tâm tư của bao người và nói lên trọn vẹn những nỗi niềm chua xót, trái ngang của bao thân phận phụ nữ trong xã hội. Vậy Lỡ bước sang ngang chính là tiếng lòng chưa ngỏ của của bao người đàn bà sau lũy tre xanh được Nguyễn Bính đồng cảm, xót thương. Trong công trình nghiên cứu “Nguyễn Bính, thi sĩ giang hồ” của Trần Đình Thu, tác giả đã dày công phân tích một số bài thơ đặc sắc nhất của tập Lỡ bước sang ngang. Với bài Lỡ bước sang ngang thì được ông đánh giá là “bài thơ tạo ra hiệu ứng kì lạ nhất”. Hay bài Mưa xuân ông nhận xét “Thơ Nguyễn Bính viết về xuân rất nhiều nhưng bài Mưa xuân này có một vẻ đẹp lung linh huyền diệu hơn cả”. Có thể thấy, tập thơ Lỡ bước sang ngang có rất nhiều bài thơ có giá trị, tạo được ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Với chuyên luận “ Nguyễn Bính, thi sĩ của đồng quê”, tác giả Hà Minh Đức đã trình bày những nhận định của mình về thơ Nguyễn Bính ở một số phương diện cụ thể. Tác giả cho rằng “Nguyễn Bính đã miêu tả chân tình và xúc động những mối tình quê. Hình ảnh những cô gái quê trong thơ Nguyễn Bính gây nhiều ấn tượng với người đọc. Người con gái dệt cửi Mưa xuân, cô SV Trịnh Thị Sinh 3 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 lái đò, cô hái mơ... là những người lao động cần mẫn, có cuộc sống giản dị, kín đáo và tế nhị trong đời sống tình cảm”. Như vậy, người phụ nữ trong Lỡ bước sang ngang luôn là những hình ảnh đẹp, chân phương mà lay động, day dứt khôn nguôi trong lòng người đọc. Điểm lại lịch sử nghiên cứu thơ Nguyễn Bính, trong bài nghiên cứu “Nguyễn Bính, thi sĩ của yêu thương”, tác giả Lại Nguyên Ân lại có nhận xét thú vị về tập thơ Lỡ bước sang ngang “thơ Nguyễn Bính làm theo lối “thác lời”, “làm lời” người khác, nói hộ chuyện người khác - một cô gái dệt cửi, một thiếu phụ hái dâu, một người chị “lỡ bước sang ngang”, một cô lái đò, một bà mẹ tiễn con gái về nhà chồng… ông rất tài nhập vai người khác và nói rất đúng giọng của họ”. Như vậy, Lỡ bước sang ngang đã nói hộ tâm tư của bao người. Đọc tập thơ có lẽ mỗi người đều nhận ra ít nhiều tâm sự của mình trong đó. Ngoài ra, thơ Nguyễn Bính nói chung và tập thơ Lỡ bước sang ngang nói riêng, còn được đề cập tới trong rất nhiều chuyên luận nghiên cứu về văn chương. Một số công trình có giá trị phải kể đến như Bốn mươi năm văn học 1986, Ngôn ngữ thơ Nguyễn Phan Cảnh 2001, Thơ với lời bình cuả Vũ Quần Phương 1992, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca của Hà Minh Đức… Bên cạnh đó còn rất nhiều các bài báo đăng trên các tạp chí trong khoảng những năm 1986 và 1996 để kỉ niệm hai mươi năm và ba mươi năm ngày mất của Nguyễn Bính và nhiều đề tài khóa luận của sinh viên các trường đại học, nhiều luận án tiến sĩ khoa học ngữ văn trong cả nước. Như vậy, nhìn một cách tổng quát tập thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính đã đón nhận được nhiều sự quan tâm, nhận xét của bạn đọc và các nhà nghiên cứu. Hầu hết các ý kiến đều cho rằng Lỡ bước sang ngang là tập thơ đánh dấu tên tuổi và tiêu biểu cho hồn thơ đượm vẻ “chân quê” của ông. Trên cơ sở những ý kiến quý báu có tính chất gợi mở, định hướng của SV Trịnh Thị Sinh 4 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 các nhà nghiên cứu, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về đề tài Thế giới nghệ thuật trong tập thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích Với đề tài này, khóa luận của chúng tôi hướng tới mục đích sau - Tìm hiểu về thế giới nghệ thuật trong tập thơ Lỡ bước sang ngang ở cả phương diện nội dung và hình thức. Qua đó, thấy được những đóng góp của Nguyễn Bính trong quá trình hiện đại hóa thơ ca Việt Nam. Nhiệm vụ nghiên cứu Khóa luận này hướng tới giải quyết các nhiệm vụ như - Khảo sát tập thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính để thấy được những nét đặc sắc trong thế giới nghệ thuật của tập thơ ở một số phương diện như cái tôi trữ tình, thời gian, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu. - Khẳng định những giá trị của tập thơ trên cả hai phương diện nội dung và hình thức thể hiện. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Như tên gọi khóa luận, chúng tôi tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong tập thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính Phạm vi nghiên cứu Với khuôn khổ là phạm vi một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ khảo sát ba mươi lăm bài thơ trong tập Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính, Nxb Lê Cường, 1940. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thống kê, phân loại. - Phương pháp so sánh. - Phương pháp phân tích, tổng hợp. SV Trịnh Thị Sinh 5 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 6. Đóng góp của khóa luận - Tìm hiểu và làm sáng tỏ thế giới nghệ thuật trong tập thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính ở hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. - Đóng góp vào việc giảng dạy và học tập thơ Nguyễn Bính trong nhà trường. 7. Bố cục Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm ba chương Chương 1. Những vấn đề chung Chương 2. Hình tượng cái tôi trữ tình trong tập thơ Lỡ Bước sang ngang của Nguyễn Bính Chương 3. Một số phương diện biểu hiện hình thức nghệ thuật trong tập thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính SV Trịnh Thị Sinh 6 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Khái niệm thế giới nghệ thuật Thế giới nghệ thuật của một tác phẩm là toàn bộ những sáng tạo nghệ thuật của tác giả. Nó vừa phản ánh hiện thực, vừa thể hiện cái tôi của chủ thể sáng tạo. Vấn đề đặt ra là cần phải có một khái niệm về thế giới nghệ thuật vừa bao quát đầy đủ các ý nghĩa và có khả năng trở thành công cụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu các hiện tượng văn học. Xuất phát từ nhu cầu đó, nhiều học giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu và đưa ra cách hiểu về khái niệm này. Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng thế giới nghệ thuật là “khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu. Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù nó phản ảnh thế giới ấy. Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng... chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật” [5,302]. Trong luận án tiến sĩ khoa học “Sự hình thành và những vận động của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại”, tác giả Nguyễn Trọng Nghĩa cho rằng “thế giới nghệ thuật là một phạm trù mĩ học bao gồm tất cả các yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn. Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và là một giá trị thẩm mĩ. Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực- đối tượng SV Trịnh Thị Sinh 7 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật. Trong thế giới nghệ thuật chứa đựng sự phản ánh nghệ thuật, tư tưởng của nhà văn. Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn bản thân nó. Nó có thể bao gồm tất cả các tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn, một trào lưu nghệ thuật, một thời kì nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay nhiều nền dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan tới nhiều yếu tố của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hiện tượng nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật là thế giới thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng, trong đó chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người... là thế giới sinh động và đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học, mỗi dân tộc, mỗi thời kì lịch sử đều có thế giới nghệ thuật của riêng mình”. Như vậy, thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể bao gồm mọi cấp độ của sáng tạo nghệ thuật. Nó là đứa con tinh thần của nhà văn nên vừa phản ánh hiện thực vừa phản chiếu cái tôi của người nghệ sĩ. Vì vậy, nó có sự độc đáo riêng biệt, không trùng lặp ở mỗi tác phẩm, mỗi tác giả cũng như trào lưu văn học. Đặc biệt, trong thơ trữ tình, thế giới nghệ thuật là một thế giới phong phú, đa dạng và luôn biến động vừa phản ánh vừa phụ thuộc vào thế giới tư tưởng, cảm xúc của chủ thể trữ tình. Thế giới nghệ thuật là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều yếu tố, nhiều cấp độ nên việc phân tích, cắt nghĩa cụ thể, rõ ràng trong khuôn khổ một khóa luận là rất khó. Vì vậy, trong khóa luận này, chúng tôi chỉ xin giới hạn các vấn đề của thế giới nghệ thuật trên cơ sở tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản như hình tượng cái tôi trữ tình, không gian, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu… Và vận dụng tìm hiểu các vấn đề này trong tập thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính. SV Trịnh Thị Sinh 8 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 Tác giả Nguyễn Bính Cuộc đời Nguyễn Bính tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, sinh vào năm 1918, tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Hới, nay thuộc xã Cộng Hòa tỉnh Nam Định. Là con một nhà nho nghèo, Nguyễn Bính sớm theo cha dùi mài đèn sách, học chữ nho. Cha Nguyễn Bính là thầy đồ Nguyễn Đạo Bình vốn tính điềm đạm, trọng người tài hoa nghĩa khí. Ông thường nhắn nhủ các con “Nhà ta coi chữ hơn vàng. Coi tài hơn cả giàu sang ở đời”. Mẹ Nguyễn Bính là con gái một gia đình khá giả, tính tình nết na, hiền hậu. Bà không may mất sớm khi mới hai tư tuổi, để lại ba người con còn nhỏ dại Nguyễn Mạnh Phác Trúc Đường mới sáu tuổi, Nguyễn Ngọc Thụ mới ba tuổi, còn Nguyễn Trọng Bính vừa ba tháng tuổi. Đây là một mất mát lớn, ám ảnh suốt cuộc đời nhà thơ. Ông từng viết về gia đình với âm điệu vừa trân trọng nhưng cũng ngậm ngùi, hờn tủi Thầy tôi dạy học chữ nho Dạy dăm ba đứa học trò loanh quanh Có gì, tiếng cả nhà thanh Cơm ăn đủ bữa, áo lành đủ thay Còn tôi sống sót là may Mẹ hiền mất sớm, giời đày làm thơ Nhà tôi Mẹ mất sớm, cha lấy vợ kế, gia đình ngày càng sa sút nên ba anh em Nguyễn Bính được gửi về nhà ngoại nuôi nấng. Ở thôn Vân, Nguyễn Bính được cậu là Bùi Trọng Khiêm nuôi dạy chu đáo. Người cậu vốn nổi tiếng văn hay, giỏi ứng đối lại giàu lòng yêu nước. Ở với cậu, Nguyễn Bính có cơ hội được vun trồng vốn văn chương, mở rộng hiểu biết về nhân tình thế thái, bồi đắp lòng yêu mến, đắm say non nước quê hương. SV Trịnh Thị Sinh 9 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 Đến khi anh trai Trúc Đường đỗ thành chung, được dạy học ở một trường tư thục thuộc Hà Đông, Nguyễn Bính giã biệt ngôi nhà, mảnh vườn nhỏ ở dưới quê để theo anh lên kinh thành. Bỏ lại vườn cam, bỏ mái gianh Tôi đi dan díu với kinh thành Hoa với rượu Ở với anh trai, Nguyễn Bính được học thêm tiếng Pháp và Pháp văn. Nhà thơ có cơ hội tiếp xúc, va chạm với những nét văn hóa mới mẻ, hiện đại. Điều này đã tác động mạnh mẽ tới con người cũng như hồn thơ Nguyễn Bính sau này. Cuộc đời Nguyễn Bính là những chuyến đi dài. Đi để thỏa chí ngao du bốn bể, đi để trải nghiệm, đi để tìm cảm hứng cho thơ ca chắp cánh, đi để kết giao bè bạn và đi cũng còn là do hoàn cảnh “cơm áo không đùa với khách thơ”. Trong những cuộc hành trình ấy, đồng hành với ông luôn là thơ và những người bạn văn chương cùng ôm giấc mộng lãng du. Ông cùng nhiều bạn tri kỉ, bạn văn chương đi tới nhiều miền đất khác nhau như Hà Nội, Thái Nguyên, Phú Thọ, Sài Gòn... Ông đi sâu vào cực nam của Tổ quốc và dừng chân lại ở Hà Tiên. Đầu 1945, ông lại đi Hậu Giang, Mĩ Tho, Cần Thơ. Khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Bính hồ hởi cùng hòa vào dòng thác của thời đại mới. Ông hăng hái tham gia Cách mạng, gắn kết cuộc đời mình với đất và người Nam bộ. Từ sau ngày Hòa bình lập lại cho tới những ngày cuối cùng của cuộc đời, Nguyễn Bính trở về với miền bắc, mảnh đất quê hương, nơi gìn giữ bao kỉ niệm tuổi thơ. Dẫu trở về đất bắc nhưng một nửa trái tim vẫn hướng tới miền Nam với bao hoài niệm về một thời tuổi trẻ xông pha đầy nhiệt huyết, với bao nhung nhớ gửi về gia đình nhỏ ở nửa kia Tổ quốc. Trong những năm tháng Mĩ leo thang bắn phá miền Bắc, Nguyễn Bính cùng gia đình mới của mình vẫn SV Trịnh Thị Sinh 10 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 bám đất, bám làng, gắn chặt với thôn quê. Tình yêu quê hương được thể hiện qua những vần thơ đầy tự hào Quê hương tôi có hát xòe hát đúm Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo Có Nguyễn Trãi, có “Bình Ngô đại cáo” Có Nguyễn Du và có một “Truyện Kiều” Bài thơ quê hương Nguyễn Bính như “cánh chim giang hồ” cả đời phiêu bạt muôn nơi nhưng khi mỏi mệt lại trở về với đất mẹ. Ông ra đi đột ngột vào năm 1966 tại quê nhà Nam Định, trong một chiều giáp Tết, khi đang chơi xuân tại nhà một người bạn thơ. Sự ra đi ấy như một ứng nghiệm cho câu thơ của ông Chén xuân chan chứa bao tình Cỏ thơm xơ xác, con oanh thẫn thờ Sáng mai chàng đã đi chưa? Xin đem nước mắt làm mưa giữ chàng! Vậy là bốn tám mùa xuân đã khép lại, cánh chim giang hồ đã ngơi đôi cánh bay nhưng cái tình của thi sĩ vẫn sẽ trải tràn khắp các trang thơ, bay phủ khắp non nước và lòng người muôn đời sau. Sự nghiệp sáng tác Nguyễn Bính là tác giả quen thuộc của văn học Việt Nam hiện đại. Ông làm thơ và bộc lộ tài năng thơ phú từ rất sớm. Cuộc đời nhà thơ tuy ngắn ngủi và hành trình sáng tác chưa dài nhưng ông đã cống hiến cho thi đàn Việt Nam những sáng tác đầy tâm huyết, chân thành. Nguyễn Bính đã để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ, phong phú với nhiều tập thơ, truyện thơ, kịch thơ, truyện, kịch bản chèo như Lỡ bước sang ngang, Tâm hồn tôi, Mười hai bến nước, Ngậm miệng, Cô Son… Trong đó thơ ca là mảng kết tụ đủ đầy tài năng và tinh huyết của cuộc đời ông. Hành trình sáng tác của Nguyễn Bính có thể SV Trịnh Thị Sinh 11 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 chia thành hai giai đoạn chính trước và sau Cách mạng tháng Tám. Ở mỗi giai đoạn sáng tác, bằng sự tài hoa của mình, Nguyễn Bính đều ghi lại những dấu ấn sâu sắc. a. Trước Cách mạng tháng Tám Nguyễn Bính là thi sĩ của làng quê, hồn quê. Tiếng thơ của ông góp một sắc điệu riêng cho thế giới thơ lãng mạn, cho phong trào thơ Mới đương thời. Ông đến với thơ ca từ rất sớm. Ngay từ khi đặt chân vào địa hạt ấy Nguyễn Bính đã sớm nhận được sự chào đón, mến mộ. Bài thơ đầu tiên ông viết khi mới mười ba tuổi và đã đoạt giải nhất trong cuộc thi thơ ở hội Phủ Giày, Nam Định. Đây là minh chứng cho một hồn thơ dào dạt xúc cảm và cũng là minh chứng cho cái duyên đến với thơ ca của thi nhân. Năm 1937, bài thơ Cô hái mơ xuất hiện đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc. Giai đoạn từ năm 1937 tới 1942 là thời kì sáng tác sung sức của Nguyễn Bính, là điểm sáng chói ngời trong hành trình thơ trước cách mạng của ông. Dẫu có rất nhiều nhà thơ viết về làng quê nhưng với bút pháp tài hoa và hồn thơ tinh tế, các sáng tác của Nguyễn Bính vẫn mang một sắc điệu, một dáng dấp riêng không nhòa lẫn. Bởi thơ ông không đơn thuần là bức tranh quê mà cao hơn, sâu hơn đó là tiếng nói của những tâm hồn mộc mạc, dung dị chốn quê nhà. Chính vì vậy, Nguyễn Bính được coi là đại diện xuất sắc cho những cây bút say mê viết về làng quê Việt Nam. Giai đoạn này, Nguyễn Bính có nhiều tập thơ được đánh giá cao. Sau thành công của bài thơ Cô hái mơ, tập thơ Tâm hồn tôi tiếp tục được giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn. Từ đó ông liên tiếp có thơ in trên các báo. Đặc biệt năm 1940, có một sự kiện đánh dấu mốc quan trọng trong hành trình sáng tác thơ ca và đưa tên tuổi Nguyễn Bính lên đỉnh cao. Đó là việc tờ Tiểu thuyết thứ năm giới thiệu bài thơ Lỡ bước sang ngang. Đây là bài thơ “tạo ra nhiều hiệu ứng kì lạ nhất”. Lỡ bước sang ngang sau đó đã trở thành tên một tập thơ nổi tiếng của Nguyễn Bính. Với tập thơ này, tác giả đã khẳng định được tài năng và tạo dựng được SV Trịnh Thị Sinh 12 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 phong cách riêng biệt cho mình. Năm 1941, Nguyễn Bính cho in liên tiếp hai tập thơ Một nghìn cửa sổ và Hương cố nhân. Ngay sau đó năm 1942, Nguyễn Bính lại tiếp tục cho trình làng ba tập thơ Người con gái ở lầu hoa, Mười hai bến nước, Mây Tần. b. Sau Cách mạng tháng Tám Từ một hồn thơ lãng mạn đa sầu, đa cảm. Nguyễn Bính đã hòa vào dòng thác của kháng chiến. Nếu trước Cách mạng, Nguyễn Bính là cây bút lãng mạn tài hoa, là gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ Mới thì sau cách mạng Nguyễn Bính ghi danh vào lớp những nhà thơ chiến sĩ. Nói như nhà văn Sơn Nam, “Nguyễn Bính là thi nhân duy nhất có tên trong Thi nhân Việt Nam đã tham gia kháng chiến tại miền duyên hải vùng Xiêm La”. Trong những năm tháng gian khổ và vĩ đại của dân tộc, như con tằm rút ruột nhả tơ, nhà thơ lại dâng cho đời “những sợi tơ vàng óng” để kịp thời phụng sự Tổ quốc. Thời kì này Nguyễn Bính hăng say sáng tác phục sự Cách mạng. Vào chiến khu tham gia kháng chiến được hai tháng ông đã viết Tập thơ yêu nước sau đó là tập Sóng biển cỏ. Đây là những sáng tác mang âm hưởng hào hùng, vừa ca ngợi vừa cổ vũ mạnh mẽ cho các chiến sĩ tả xung hữu đột nơi hòn tên mũi đạn. Đặc biệt, bài thơ Tiểu đoàn 307 của ông ngay từ khi ra đời đã được các chiến sĩ vô cùng yêu thích, được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc và truyền bá rộng rãi khắp toàn quân. Gắn bó sâu sắc với Cách mạng, ngòi bút Nguyễn Bính như được tiếp thêm sức mạnh mới. Ông say mê sáng tác và cho ra đời nhiều tập thơ yêu nước như Ông lão mài gươm, Trăng kia đã đứng ngang đầu, Những dòng tâm huyết, Mừng Đảng ra đời. Hòa bình lập lại cho tới những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời dù hoàn cảnh sống gặp nhiều gian khó song bút lực nhà thơ vẫn dồi dào. Sống giữa miền Bắc hòa bình lòng nhà thơ lại hướng về miền Nam đau thương. Nguyễn Bính làm thơ để vạch trần tội ác của Mĩ Diệm, phản ánh ca ngợi và SV Trịnh Thị Sinh 13 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 cổ vũ tinh thần chiến đấu kiên cường của đồng bào miền Nam cũng như thể hiện niềm thương nhớ, khát vọng thống nhất đất nước, non sông về một mối. Năm 1955, Nguyễn Bính cho in liên tiếp ba tập thơ Đồng Tháp Mười, Trả ta về, Gửi người vợ miền nam. Ba tập thơ như món quà dành tặng cho miền đất Nam Bộ yêu thương, nơi nhà thơ gắn bó suốt một thời trai trẻ sục sôi nhiệt huyết. Về sống giữa miền bắc, khát vọng hòa bình thống nhất đất nước càng cuộn cháy trong lòng nhà thơ. Nỗi niềm đó được gửi trọn trong những sáng tác như Tiếng trống đêm đêm xuân, Nước giếng thơi, Tình nghĩa đôi ta, Đêm sao sáng. Trong những ngày cuối đời, dẫu “cơm áo gạo tiền không đùa với khách thơ”, dẫu đất nước vẫn chìm ngập trong đau thương, mất mát nhà thơ vẫn hòa mình vào nhịp sống sục sôi của đất nước, gắn bó với xóm làng. Tiếng thơ của ông vẫn ngân vang đầy tha thiết, tự hào. Những ngày cuối năm 1966, Nguyễn Bính đến thăm nhà một người bạn thơ ở xã Hòa Lí, huyện Lí Nhân. Khi ra vườn ngắm cảnh, nhà thơ trúng gió lạnh, thổ huyết rồi không qua khỏi. Như vậy, tuy cuộc đời nhà thơ đã khép lại đột ngột và ngắn ngủi nhưng trong những năm tháng đó bằng tài năng và tâm huyết của một nhà thơ chân thành, tha thiết với quê hương đất nước, Nguyễn Bính đã để lại cho muôn đời sau một hành trình thơ gửi trọn tấm lòng của người con đất Việt. Nhà lí luận văn học Sedrin đã từng nói về sức sống bất diệt của văn chương chân chính “Văn học nằm ngoài những quy luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”. Và theo chúng tôi, văn thơ của Nguyễn Bính chính là một minh chứng sáng ngời. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, bao sàng lọc nghiệt ngã của dòng thời gian, tiếng thơ Nguyễn Bính vẫn ngân nga, vang vọng mãi. SV Trịnh Thị Sinh 14 Lớp K36C - Ngữ văn Khóa luận tốt nghiệp Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 Tập thơ Lỡ bước sang ngang Nguyễn Bính là nhà thơ có bút lực dồi dào. Ông làm thơ từ rất sớm và trong cuộc đời lao động nghệ thuật miệt mài của mình ông đã để lại rất nhiều tập thơ, truyện thơ, truyện, tùy bút… Trong đó, có những tác phẩm như viên minh châu rọi sáng suốt hành trình sáng tác đưa tên tuổi nhà thơ lên tầm cao, khẳng định được tài năng, phong cách riêng của mình. Lỡ bước sang ngang chính là một tập thơ như vậy. Ban đầu, Lỡ bước sang ngang là tên một bài thơ dài được in trong ba kì liên tiếp của tờ Tiểu thuyết thứ năm. Sau đó, Lỡ bước sang ngang trở hành tên một tập thơ của Nguyễn Bính được nhà xuất bản Lê Cường in năm 1940. Tập thơ gồm ba mươi lăm bài thơ viết bằng các thể thơ quen thuộc của dân tộc như lục bát, thơ bẩy chữ, thơ năm chữ. Trong đó, có những bài như Mưa xuân, Lỡ bước sang ngang, Cô lái đò, Cô hái mơ, Viếng hồn trinh nữ... đã để lại ấn tượng sâu sắc. Ba mươi lăm bài trong tập thơ là những mảnh ghép ghi lại hồn thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng. Với tập thơ này, Nguyễn Bính đã cất cao tiếng nói thay cho tâm hồn những người dân quê hiền lành, mộc mạc. Ông thấu hiểu và sẻ chia những ngang trái trong thân phận của bao kiếp người phụ nữ xưa. Đồng thời, ẩn sâu trong những câu thơ đó cũng là cảnh ngộ của nhà thơ. Đó là tâm tình của một thân phận lỡ làng, cô lẻ đầy xót xa. Yêu thương đong đầy mà số phận thì trái ngang. Đọc Lỡ bước sang ngang, chúng ta còn nhận ra tình yêu quê hương đằm thắm của thi nhân đan cài sau những hình ảnh thơ về đêm chèo, hội xuân, về hình ảnh người nhà quê nghèo khổ mà nghĩa tình, những hình ảnh thiên nhiên xóm làng quen thuộc… Tất cả những điều đó đã tạo dựng nên giá trị nhân văn sâu sắc cho tập thơ. Có thể thấy, Lỡ bước sang ngang đã khẳng định sự thành công trong nghệ thuật thơ ca của Nguyễn Bính. Với tập thơ này, tác giả sử dụng lớp ngôn ngữ nôm na giản dị, những hình ảnh thơ đặc sắc, những biện pháp nghệ thuật SV Trịnh Thị Sinh 15 Lớp K36C - Ngữ văn * Ví dụ “Con đường xưa em đi” hoặc “Con duong xua em di” hoặc “cdxed” * Chúng tôi khuyến khích gõ tên bài hát không dấu hoặc viết tắt của tên bài hát Ví dụ như “Con duong xua em di” hoặc “cdxed” để kết quả tìm được tối ưu nhất. Đang xem Chuyện tình năm xưa anh với em yêu nhau * Bấm vào nút TRÌNH CHIẾU để xem toàn màn hình chỉ có trên máy tính. Chuyện tình năm xưa anh với em yêu nhau, Êm đềm như ánh trăng vàng, Những lúc trốn nhà hẹn hò nơi công viên, Thề yêu nhau đến trọn đời… Rồi cùng nhau mơ ước một mái nhà, Đơn sơ cùng nhau chung sống, Những tháng ngày nên thơ có nhau suốt đời, Anh làm lo tương lai em dạy con nên ngưòi… Mộng ước đó không bao giờ anh quên, Tình yêu em vẫn dạt dào trong lòng, Nên ngày gian lao buồn được thời gian,Mong tròn mơ ước… Nào hay đâu em xây đời sa hoa, Đành quên anh với lời thề xưa, Căn nhà xinh xinh mình ước mơ có rồi, Giờ em ở đâu… Cuộc đời cao sang đưa bước em sang ngang,Quên lời hẹn ước năm nào, Nơi đây phố nghèo một mình, Anh đơn côi và ôm thương nhớ khôn nguôi… Rồi từng đêm trăng sáng soi mái nhà cô liêu, Nhìn anh đơn bóng nghe buốt lạnh con tim, Duyên tình dang dở nay đời anh, Thiếu em như sân ga vắng con tàu… == DẠO NHẠC == Mộng ước đó không bao giờ anh quên, Tình yêu em vẫn dạt dào trong lòng, Nên ngày gian lao buồn được thời gian,Mong tròn mơ ước… Nào hay đâu em xây đời sa hoa, Đành quên anh với lời thề xưa, Căn nhà xinh xinh mình ước mơ có rồi, Giờ em ở đâu… Cuộc đời cao sang đưa bước em sang ngang,Quên lời hẹn ước năm nào, Nơi đây phố nghèo một mình, Anh đơn côi và ôm thương nhớ khôn nguôi… Rồi từng đêm trăng sáng soi mái nhà cô liêu, Nhìn anh đơn bóng nghe buốt lạnh con tim, Duyên tình dang dở nay đời anh, Thiếu em như sân ga vắng con tàu… Xem thêm Những “Điểm Trừ” Của Con Gái Khiến Các Chàng Bỏ Chạy Không Quay Đầu ! Duyên tình dang dở nay đời anh, Thiếu em như sân ga vắng con tàu…Duyên tình dang dở nay đời anh, Thiếu em như sân ga vắng con tàu…… == HẾT BÀI == Chuyện tình năm xưa anh với em yêu nhau,Êm đềm như ánh trăng vàng,Những lúc trốn nhà hẹn hò nơi công viên,Thề yêu nhau đến trọn đời… Rồi cùng nhau mơ ước một mái nhà,Đơn sơ cùng nhau chung sống,Những tháng ngày nên thơ có nhau suốt đời,Anh làm lo tương lai em dạy con nên ngưòi… Mộng ước đó không bao giờ anh quên,Tình yêu em vẫn dạt dào trong lòng,Nên ngày gian lao buồn được thời gian,Mong tròn mơ ước… Nào hay đâu em xây đời sa hoa,Đành quên anh với lời thề xưa,Căn nhà xinh xinh mình ước mơ có rồi,Giờ em ở đâu… Cuộc đời cao sang đưa bước em sang ngang,Quên lời hẹn ước năm nào,Nơi đây phố nghèo một mình,Anh đơn côi và ôm thương nhớ khôn nguôi… Xem thêm Rồi từng đêm trăng sáng soi mái nhà cô liêu,Nhìn anh đơn bóng nghe buốt lạnh con tim,Duyên tình dang dở nay đời anh,Thiếu em như sân ga vắng con tàu… Post navigation Những bài ca dao - tục ngữ về "sông Cửu Long" Nước Cửu Long sóng dờn cuồn cuộn Nước Cửu Long sóng dờn cuồn cuộn Cửa Hàm Luông, mây cuốn cánh buồm trôi Bậu với qua hai mặt một lời Trên có trời, dưới có đất Ngãi trăm năm vương vất tơ mành Tử sanh, sanh tử chung tình Dù ai ngăn đón, tôi với mình cứ thương Ở đâu sáu tỉnh anh ơi Ở đâu sáu tỉnh anh ơi Sông nào chín cửa, nước chảy xuôi một nguồn Sông nào có nước trong luôn Núi nào có tiếng cả muôn dặm ngoài Con gì có cánh không bay Con gì không cẳng, chạy ngay trăm rừng Con gì giống chó có sừng Anh mà đáp được, em cùng theo anh – Nam Kỳ sáu tỉnh em ơi Sông Cửu Long chín cửa, nước chảy xuôi một nguồn Sông Đồng Nai nước sạch trong luôn Núi Thất Sơn danh tiếng cả muôn dặm ngoài Con gà có cánh không bay Con rắn không cẳng, chạy ngay trăm rừng Con dê giống chó có sừng Anh đà đáp được, em cùng theo anh Thấy anh hay chữ, em đây hỏi thử đôi lời Thấy anh hay chữ, em đây hỏi thử đôi lời Đường từ Châu Đốc, Hà Tiên Kinh nào chạy thẳng nối liền hai nơi? Đất nào lắm dốc nhiều đồi? Đèn nào cao nhất tiếng đời đều nghe? Sông nào tấp nập thuyền bè? Hồ nào với biển cập kè bên nhau? Trai nào nổi tiếng anh hào? Anh mà đáp đặng, má đào em trao – Nghe em hỏi tức, anh đây nói phứt cho rồi Đường từ Châu Đốc, Hà Tiên Có kênh Vĩnh Tế nối liền hai nơi Đất Nam Vang lắm dốc nhiều đồi Đèn cao Châu Đốc mọi người đều nghe Sông Cửu Long tấp nập thuyền bè Biển Hồ hai chữ cập kè bên nhau Trai Việt Nam nổi tiếng anh hào Anh đà đáp đặng, vậy má đào em trao đây! Sông Vàm Cỏ nước trong thấy đáy Sông Vàm Cỏ nước trong thấy đáy, Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng. Ai về Mỹ Thuận Tiền Giang, Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa Ngó ra sông Cái, ngó ngoái thấy đình Ngó ra sông Cái, ngó ngoái thấy đình Hạc chầu thần còn đủ cặp, huống chi mình muốn lẻ đôi Sông Cửu Long chín cửa, hai dòng Sông Cửu Long chín cửa, hai dòng, Người thương anh vô số, nhưng chỉ một lòng với em Gò Công rạch Lá nhớ lung Gò Công rạch Lá nhớ lung Quê hương Võ Tánh Trương Công oai hùng Lạc loài cách bến xa sông Gió thu hiu hắt chạnh lòng cố hương Tàu Nam Vang chạy ra biển Bắc Tàu Nam Vang chạy ra biển Bắc Xuồng câu tôm đậu sát bến nga Thấy em mất mẹ còn cha Muốn vô hoạn dưỡng biết là đặng không? Dị bản Chiếc tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát Xuồng câu tôm đậu sát cành đa Thấy em có chút mẹ già Muốn vô nuôi dưỡng biết là đặng không. Tàu Nam Vang chạy ngang sông Hậu Tàu Vĩnh Thuận hay đậu Tam Bình Đôi ta nặng nghĩa nặng tình Biết cha với mẹ hay chuyện chúng mình ra sao ? Tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát Xuồng câu tôm đậu sát mé nga Em thấy anh có mỗi mẹ già Muốn vô hoạn dưỡng vậy mà đặng không. Cửu Long Tên một con sông lớn ở miền Tây Nam Bộ. Gọi là Cửu Long chín rồng vì sông đổ ra biển bằng chín cửa Định An, Ba Thắc, Tranh Đề, Tiểu, Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu và Ba Lai. Hàm Luông Một trong các nhánh của sông Tiền, là ranh giới tự nhiên giữa hai cù lao Bảo và Minh, dài 70 km, chảy trọn vẹn trên đất Bến Tre. Trên sông có những cù lao hoặc cồn đất nổi tiếng như cù lao Tiên Long, cù lao Thanh Tân, cù lao Lăng, cù lao Ốc, cù lao Lá, cù lao Đất, cồn Hố, cồn Lợi... Theo học giả An Chi, chữ Luông trong địa danh này chính là âm gốc của chữ Long rồng. Cầu bắc qua sông Hàm Luông Bậu Cũng nói là em bậu, tiếng gọi người tiếp chuyện với mình, khác giới tính, có ý thương mến, thân mật. Cách xưng hô "qua, bậu" thường được dùng trong quan hệ vợ chồng, người yêu phương ngữ Nam Bộ. Qua Từ người lớn dùng để tự xưng một cách thân mật với người nhỏ, hoặc cách tự xưng có đôi chút tính chất khách quan, nhưng thân tình Từ điển từ ngữ Nam Bộ - Huỳnh Công Tín. Ngãi Nghĩa, tình nghĩa phương ngữ Trung và Nam Bộ. Tơ mành Dây tơ mỏng, chỉ tình yêu vương vấn của đôi trai gái xem thêm chú thích Ông Tơ Nguyệt. Khi dệt lụa, tơ mành là sợi ngang, mỏng manh hơn sợi dọc. Cho hay là thói hữu tình Đố ai dứt mối tơ mành cho xong Truyện Kiều Nam Kỳ lục tỉnh Tên gọi miền Nam Việt Nam thời nhà Nguyễn, trong khoảng thời gian từ năm 1832 tới năm 1862 khi Pháp chiếm 3 tỉnh Miền Đông và năm 1867 khi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây, bao gồm sáu lục tỉnh 1. Phiên An, sau đổi thành Gia Định tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn, 2. Biên Hòa tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa, 3. Định Tường tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho ở miền Đông; 4. Vĩnh Long tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long, 5. An Giang tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc, 6. Hà Tiên tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên ở miền Tây. Bản đồ Lục tỉnh năm 1808 Sông Đồng Nai Con sông dài nhất chảy trên lãnh thổ nước ta, chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh. Trước đây sông có tên là Phước Long, đặt tên theo phủ Phước Long Biên Hòa - Thủ Dầu Một hiện nay. Sông chảy qua thành phố Biên Hòa và đến Nhà Bè thì có thêm chi lưu là sông Sài Gòn. Một nhánh sông Đồng Nai Thất Sơn Còn có tên là Bảy Núi, chỉ hệ thống 37 ngọn núi mọc giữa đồng bằng Tây Nam Bộ, nằm trong địa phận hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang. Bảy ngọn núi tiêu biểu được dùng để gọi tên cả dãy Thất Sơn bao gồm Núi Cấm, Núi Dài Năm Giếng, Núi Cô Tô, Núi Phụng Hoàng, Núi Dài, Núi Tượng, Núi Két, Núi Nước. Hiện nay chưa rõ vì sao tên Bảy Núi lại được dùng. Đà Đã từ cổ, phương ngữ. Châu Đốc Địa danh nay là thị xã của tỉnh An Giang, nằm sát biên giới Việt Nam - Campuchia và cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 250 km về phía Tây. Châu Đốc nổi tiếng vì có nhiều món ăn ngon và nhiều di tích lịch sử. Dưới thời Pháp thuộc, Châu Đốc là điểm khởi đầu thủy trình đến Nam Vang. Theo học giả Vương Hồng Sển, địa danh Châu Đốc có nguồn gốc từ tiếng Khmer moat-chrut, nghĩa là "miệng heo." Đêm Châu Đốc Hà Tiên Địa danh nay là thị xã phía tây bắc tỉnh Kiên Giang, giáp với Campuchia. Tên gọi Hà Tiên bắt nguồn từ Tà Ten, cách người Khmer gọi tên con sông chảy ngang vùng đất này. Hà Tiên về đêm Kinh Kênh, sông đào dùng để dẫn nước hoặc để đi lại bằng đường thủy phương ngữ Nam Bộ. Kênh Nhiêu Lộc thành phố Hồ Chí Minh Anh hào Anh hùng hào kiệt, người có tài năng, chí khí. Hội anh hào là dịp để anh hào gặp và thi thố lẫn nhau để lập nên những công trạng hiển hách. Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài. Truyện Kiều Kênh Vĩnh Tế Một con kênh đào nằm song song với đường biên giới Việt Nam-Campuchia, bắt đầu từ bờ tây sông Châu Đốc thẳng nối giáp với sông Giang Thành, thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang ngày nay. Kênh được vua Gia Long cho bắt đầu đào với tháng 9 âm lịch năm 1819 đến tháng 5 âm lịch năm 1824 mới xong, qua hai lần tạm ngừng rồi tiếp tục đào. Đại Nam nhất thống chí chép Từ ấy đường sông lưu thông, từ kế hoạch trong nước, phòng giữ ngoài biên cho tới nhân dân mua bán đều được tiện lợi vô cùng. Kênh Vĩnh Tế đoạn chảy qua Châu Đốc, An Giang Nam Vang Tên tiếng Việt của thành phố Phnom Penh, thủ đô nước Campuchia. Vào thời Pháp thuộc, để khai thác triệt để tài nguyên thuộc địa, chính quyền thực dân cho thành lập công ty tàu thủy, mở nhiều tuyến đường sông từ Sài Gòn và các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, vận chuyển hành khách, thổ sản, hàng hoá các loại đến Nam Vang, và ngược lại. Do đời sống quá khổ cực, nhiều người Việt Nam đã đến lập nghiệp tại Nam Vang. Đèn Châu Đốc Thời Pháp thuộc, Châu Đốc lần lượt là tên của một "hạt tham biện," rồi là một tỉnh lấy thị xã Châu Đốc ngày nay làm tỉnh lỵ. Trước mặt thị xã Châu Đốc là sông Hậu, vốn là tuyến đường thủy quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long. Do sông rất rộng và có nhiều cồn nhỏ ở giữa sông, người Pháp đã đặt một ngọn đèn cao chưa rõ ở địa điểm nào nhằm làm mốc cho thuyền bè qua lại. Biển Hồ Tên nhân dân ta thường dùng để gọi hồ Tonlé Sap, một hồ nước ngọt rộng lớn thuộc Campuchia. Từ thời Pháp thuộc, nhiều người dân Việt Nam đã đến đây lập nghiệp và sinh sống, tạo thành cộng đồng người Việt khá đông đúc cho đến bây giờ. Biển Hồ Đặng Được, để, nhằm từ cũ, phương ngữ. Vàm Cỏ Một dòng sông ở Nam Bộ, thuộc hệ thống sông Đồng Nai, dài khoảng 35 km, là hợp lưu của 10 chi lưu, trong đó hai chi lưu chính trực tiếp là sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây. Sông chảy chủ yếu qua tỉnh Long An và làm ranh giới giữa Long An và Tiền Giang, rồi cuối cùng đổ vào sông Soài Rạp. Về tên gọi sông Vàm Cỏ, có hai cách giải thích - Theo Tự điển Việt Nam của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, "Vàm ngã ba sông rạch, nơi một con rạch giáp với sông hay một con sông nhỏ giáp với sông lớn”. Ở đây, ý nói sông Vàm Cỏ là sông nhỏ, giáp sông Soài Rạp. Do hai bên bờ mọc nhiều cỏ, gọi là Vàm Cỏ. - Các tài liệu của Pháp gọi sông Vàm Cỏ là “Vaïco” bắt nguồn từ tiếng Khmer “piăm vaïco”, nghĩa là "vàm lùa bò". Người Việt đọc chệch thành Vàm Cỏ. Cách giải thích thứ 2 được nhiều người tán đồng, vì hai chi lưu Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây đều bắt nguồn từ Campuchia. Hơn nữa, một số tài liệu xưa ghi nhận rằng vùng này ngày trước có nhiều trâu bò đi thành từng đàn, theo đường cố định, lâu ngày trở thành cái láng, con rạch, thậm chí con sông. Mỹ Thuận Chú thích này đang để ngỏ. Nếu bạn có thông tin về Mỹ Thuận, hãy đóng góp cho chúng tôi. Tiền Giang Một tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long, cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng Nam và thành phố Cần Thơ 90 km về hướng Bắc. Tiền Giang nằm trải dọc bờ Bắc, sông Tiền là nguồn cung cấp nước ngọt chính cho toàn tỉnh. Trước khi bị người Việt xâm lược vào thế kỷ 17, đất Tiền Giang thuộc về Chân Lạp nhà nước đầu tiên của người Khmer tồn tại trong giai đoạn từ khoảng năm 550 tới 802 trên phần phía nam của bán đảo Đông Dương, gồm Campuchia và một số tỉnh phía Nam của Việt Nam hiện đại. Chỉ bài vọng cổ nổi tiếng của tỉnh Tiền Giang Người đánh đàn trên sông Mỹ Thuận, một số người gọi là bài Gã đánh đàn trên sông Mỹ Thuận. Hạc Loại chim cổ cao, chân và mỏ dài. Trong Phật giáo và văn chương cổ, hạc tượng trưng cho tuổi thọ hoặc tính thanh cao của người quân tử. Trước cửa các điện thờ thường có đôi hạc đá chầu. Đỉnh Hoa biểu từ khơi bóng hạc Gót Nam Du nhẹ bước tang bồng Nhị thập tứ hiếu Tranh vẽ hạc Gò Công Nay là tên một thị xã thuộc tỉnh Tiền Giang, giáp với thành phố Mỹ Tho. Tỉnh Gò Công ngày xưa bao gồm thị xã Gò Công, huyện Gò Công Đông và huyện Gò Công Tây ngày nay. Gò Công Đông và Gò Công Tây là vùng duyên hải, có hai cửa biển của sông Tiền cửa Đại và cửa Tiểu. Tên gọi Gò Công xuất phát từ việc vùng đất này trước đây có nhiều chim công khổng tước, vì vậy tên Hán Việt của Gò Công là Khổng Tước Nguyên. Gò Công gắn liền với tên tuổi người anh hùng Trương Định. Phong cảnh Gò Công Đông Rạch Lá Tên gọi khác của sông Tra, một nhánh của sông Vàm Cỏ. Trong cuộc khởi nghĩa Gò Công của người anh hùng Trương Định, rạch Gò Công và rạch Lá là hai chiến lũy quan trọng. Võ Tánh Danh tướng triều Nguyễn dưới thời Nguyễn Ánh. Ông có công giúp Nguyễn Ánh chống nhà Tây Sơn và mất trước khi nhà Nguyễn chính thức thành lập. Năm 1800, ông và Lễ bộ tham tri Ngô Tùng Châu trấn giữ thành Bình Định. Thành bị hai đại tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng bao vây suốt 18 tháng liền. Đến ngày 7/7/1801, nhắm không cầm cự được nữa, ông cho người trao Trần Quang Diệu bức thư xin tha chết cho quân sĩ trong thành, rồi sai thuộc hạ lấy rơm củi chất dưới lầu Bát Giác, đổ thuốc súng vào, châm ngòi tự vẫn. Đương thời, ông được xếp cùng với Đỗ Thành Nhơn và Châu Văn Tiếp là "Gia Định tam hùng" ba người hùng đất Gia Định. Ông giữ chức Hậu quân nên nhân dân yêu mến gọi ông là quan Hậu, hoặc ông Hậu. Lăng Võ Tánh Thực ra quê của Võ Tánh là ở Biên Hòa, nhưng vì lúc khởi binh chống nhà Tây Sơn ông đã chiếm cả vùng Gò Công và giương cờ "Khổng Tước Nguyên Võ" tiếng Hán Nguyên = Gò; Khổng Tước = Công nên được kể đến trong câu ca dao này. Trương Định Còn có tên là Trương Công Định hoặc Trương Đăng Định, một võ quan dưới thời vua Tự Đức triều Nguyễn và là thủ lĩnh chống Pháp trong giai đoạn 1859-1864. Ông sinh tại làng Tư Cung, phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi nay là xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Tháng 2 năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, Trương Định đem quân đồn điền của mình lên đóng ở Thuận Kiều, bắt đầu chống Pháp. Ông tổ chức lực lượng, triển khai tác chiến trong các vùng Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sài Gòn, Đồng Tháp Mười và kéo dài đến tận biên giới Campuchia. Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế ký kết hòa ước với Pháp, ra lệnh cho tất cả các lực lượng chống Pháp phải bãi binh. Trương Định kháng mệnh vua, rút quân về Gò Công, xưng là Trung thiên tướng quân, và được nhân dân tôn là Bình Tây Đại Nguyên soái, tiếp tục đánh Pháp. Ngày 19 tháng 8 năm 1864, Huỳnh Công Tấn phản bội dẫn đường cho quân Pháp bất ngờ bao vây đánh úp. Bản doanh Đám lá tối trời thất thủ, Trương Định bị trọng thương và rút gươm tự sát lúc rạng sáng ngày 20. Khi ấy, ông 44 tuổi. Trương Định Xem vở cải lương Cờ nghĩa giồng Sơn Quy nói về cuộc khởi nghĩa Trương Định. Cố hương Quê cũ từ Hán Việt. Sao chưa về cố hương? Chiều chiều nghe vượn hú Hoa lá rụng buồn buồn Tiễn đưa về cửa biển Những giọt nước lìa nguồn Hương rừng Cà Mau - Sơn Nam Nga Một loại cỏ thân ống thường mọc ven sông nước ở miền Tây Nam Bộ. Cây nga mọc ven kênh. Ảnh © Um A Hum, chụp tại xã Bình Hàng Tây, Cao Lãnh, Đồng Tháp. Hoạn dưỡng Nuôi nấng và chăm sóc từ Hán Việt. Tam Bình Tên một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Long. Huyện có đặc sản là cam sành, nổi tiếng thơm ngon và ngọt. Ngoài ra, huyện còn có khu di tích Cái Ngang, chùa Kỳ Sơn, chùa Phước Sơn.... đều là những điểm thu hút khách tham quan cả nước.

cuộc đời cao sang đưa bước em sang ngang